Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Nguyễn Ngọc Nam Phương Lính Thời Bình |
Những thiên anh hùng ca về người lính thời chiến chinh được mô tả rất nhiều và thường gây được xúc động sâu sắc lòng người. Thế còn cuộc đời những người lính khi thời bình ra sao? Cuốn sách này sẽ kể cho bạn nghe chơi...
Tên nhân vật trong câu chuyện không phải là thật.
Một số chi tiết sự kiện được sửa đổi
Và trong câu chuyện dài này cũng có rất nhiều đoạn được hư cấu thêm thì tất cả chúng cũng không đi ra ngoài sự thật bao nhiêu.
Câu chuyện này dài, rất dài, có thể bị cho rằng nhiều trang mô tả những điều quá vụn vặt. Nhưng nếu không mô tả chúng thì cũng chẳng có mấy điều gì nữa để mà kể. Than ôi, có lẽ phải nhờ rất nhiều đến những chi tiết tầm thường vụn vặt mới có thể làm nổi được hình ảnh của người lính trong thời bình, hình ảnh mà rất ít người chịu bớt chút thời gian để ngẫm suy.
Vào lính
Nửa năm sau tôi chính thức nhập ngũ.
Lúc ấy là đầu tháng ba năm 1991
Đơn vị tôi nhập ngũ là vùng III Hải Quân, căn cứ đầu não nằm ở bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng. Vào thời điểm mà tôi nhập ngũ, nghĩa là năm 1991, đất nước đang nhộn nhạo trong các cảnh chia tách phân bố lại các tỉnh thành. Đà Nẵng trước đấy thuộc vào tỉnh Quảng Nam nhưng lúc này tách ra là một thành phố trực thuộc trung ương không thuộc vào Quảng Nam nữa. Đà Nẵng quả là một thành phố lớn, chỉ đứng sau Hà Nội và Sài Gòn, và so với hai thành phố lớn nhất nước Hà Nội, Sài Gòn cũng như so với cố đô Huế cổ kính nằm cách qua dãy đèo Hải Vân trùng điệp thì Đà Nẵng có rất nhiều những nét độc đáo riêng khiến người dân ở đây hết sức tự hào. Sơn Trà là bán đảo cách trung tâm thành phố ước chừng mươi cây số đường chim bay, nó được đặt vào quận Ba của thành phố và nằm ở bên tả ngạn sông Hàn, còn trung tâm thành phố nằm ở hữu ngạn sông Hàn...
Trước đấy thì thủ tục đăng lính của tôi cũng khá đơn giản. Có giấy gọi xét tuyển nghĩa vụ quân sự, tôi ra huyện đội thị trấn huyện khám sức khoẻ gồm đo chiều cao cân nặng đo mắt đo nhịp tim phổi, mọi cái đều đạt loại tốt. Ông bác sĩ già hấp háy cặp mắt khi ghi các chữ loại A đỏ chót trong phần khám sức khoẻ của tôi. Sau đấy ít lâu thì giấy báo trúng tuyển gửi về.
Dĩ nhiên không liên hoan như bọn thằng Anh, thằng Hoàng. Tuy vậy cha mẹ tôi cũng làm đĩa bánh trái hoa quả và mâm cơm nho nhỏ trước là để cúng ông bà tổ tiên phù hộ cho tôi chân cứng đá mềm và sau là tiễn biệt tôi lên đường. Tất cả bọn thằng Dũng, thằng Hưng, thằng Duy, thằng Tùng, con Hằng, con Lan Anh, con Nhung cũng đều đến chia tay.
Sáng sớm hôm lên đường bọn bạn tôi lấy xe đạp chở tôi ra huyện đội tại thị trấn. Ở đây không khí thật náo nhiệt, cả huyện đi bộ đội đợt này gồm hai mươi đứa, xe chở quân được căng biểu ngữ đỏ rực, những người đưa tiễn rất đông gồm người thân và chủ yếu là thanh niên bạn bè của nhau. Đám thằng Dũng và con Hằng xem ra nổi bật nhất, thằng Dũng nổi bật nhờ điệu cười khiến người xung quanh cứ muốn sán lại, thằng Duy, thằng Hưng, thằng Tùng cũng tỏ ra không kém cạnh khi cố tìm cách làm tôi vui, hình như ngoài thằng Dũng thì mấy thằng con trai này nghĩ rằng tôi phải bỏ học để vào lính là chuyện rất buồn, còn đám con Hằng, con Nhung và con Lan Anh thì nổi bật nhờ chúng xinh gái. Mấy đứa con gái mắt đỏ hoe, chúng tặng tôi bút, sổ và khăn tay, bọn con trai không tặng gì, chỉ riêng thằng Tùng là tặng tôi con dao găm. Thằng này đúng thật là trời ơi đất hỡi, đi quân đội chứ có phải đi ăn cướp đâu mà cần đến dao găm, mà giả sử có đi ăn cướp thì vào đó người ta cũng sẽ phát súng thuận tiện hơn là dao găm chứ.
Xe rú còi báo hiệu lên đường. Những người tiễn đưa như vỡ oà, níu lấy tay nhau lần cuối, nhoài qua cửa sổ xe tôi nắm lấy tay bọn thằng Dũng và con Hằng, tôi thấy rõ nước mắt long lanh của mấy đứa con gái. Xe chuyển bánh, những cánh tay giơ lên vẫy, tiếng còi, tiếng loa, rồi tất cả lùi xa dần, ngoái đầu qua cửa sổ tôi cũng như những cậu lính bạn khác cố tìm cách thu vào mắt lần cuối hình ảnh của những người thân yêu.
Xe chở quân đưa chúng tôi đi trên đường quốc lộ Một qua các vùng của đất nước. Chiếc xe cũ kỹ, tiếng động cơ ầm ầm, mùi xăng dầu khét lẹt, mọi cửa kính hai bên đều đã bị tháo ra từ đời thuở nào. Cũng chưa từng đi xa ngoài một vài lần đi trong tỉnh nên tôi háo hức ngắm nhìn phong cảnh liên tục thay đổi qua cửa xe.
Các vùng quê nối nhau trải dài với những cánh đồng lúa, ngô, dâu, những ngọn đồi, những dãy núi, những con sông. Qua các vùng Nghệ An, Hà Tĩnh thì không khác mấy so với vùng quê tôi nhưng khi vượt qua đèo Ngang để vào các vùng Quảng Bình, Quảng Trị thì có những điểm khác hẳn, ngồi trên xe khi được nhìn lướt qua tôi thấy nhiều điểm khác biệt mà rõ ràng nhất là phong cách về nhà cửa và cách ăn mặc của những người dân trên các vùng. Làng mạc nhà cửa không xây cất trên đồi, quanh làng cũng thưa dần đi những luỹ tre bao bọc, những ngôi nhà không mang dáng vẻ cổ xưa, tuy vậy các ngôi nhà có cái gì đấy càng về sau càng rất mỏng manh, tôi mới thấy rằng trước nay vẫn nghe nói người miền Nam không quá chú trọng vào nhà cửa như người miền Bắc quả thật là rất đúng... Kênh nhà Lê chạy dài lúc nào cũng ăm ắp nước, con sông Lam xanh trong hùng vĩ, chín mươi chín ngọn Hồng Lĩnh sừng sững theo truyền tích xưa đã không đủ trăm cho bầy phượng hoàng, dãy đèo Ngang quanh co uốn dốc nổi tiếng với bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan, rồi các vùng cát trắng mênh mông như vô tận của Quảng Bình, Quảng Trị, dải sông Gianh từng là nơi chia đôi nước nhà trong bao lần lịch sử, những hình ảnh đất nước trên con đường thiên lý khiến các cậu lính mới như chúng tôi ngắm nhìn say sưa và bàn tán ỏm tỏi.
Bọn chúng tôi gồm hai mươi đứa, đều ở trong một huyện, người ta lấy quân thường theo một địa chỉ. Nghe nói đợt tuyển quân này trong tỉnh của tôi thì mấy huyện phía bắc đều đưa ra vùng Lai Châu, Lạng Sơn làm lính biên phòng, còn riêng huyện tôi thì đưa về bổ sung vào vùng III Hải Quân ở Đà Nẵng. Hầu như những đứa trên xe đều có biết nhau, có một ít học cùng trường cấp ba với nhau.
Như đứa ngồi cạnh tôi là thằng Thắng, người làng bên sông, trước kia học cấp ba cùng tôi nhưng khác lớp. Cậu ta ngồi bên cạnh tôi mà dáng vẻ cau có. Hỏi nó tại sao, nó bảo nó không thích đi lính, nhưng nhà nó ba thằng con trai đều ở tuổi nghĩa vụ quân sự, bố mẹ nó bắt nó đi vì hai thằng anh kia đều bỏ học từ lâu và đi làm thợ xây kiếm được tiền nuôi gia đình, còn nó với mảnh bằng cấp ba thì làm được chi cho đời nên tốt nhất là hãy đi lính để gia đình nó khỏi mang tiếng với xóm làng là có nhiều con trai mà không thực hiện nghĩa vụ quân sự. Nó trả lời tôi như vậy với một giọng điệu cay đắng. Mẹ kiếp, nó rủa, biết thế này thà tao bỏ học giữa chừng. Tôi lại phải động viên an ủi cậu ta. Cậu ta có vẻ nghe nghe vì nó biết tôi hơn nó ở chỗ học giỏi nổi tiếng trong trường mà còn vui vẻ cảm thấy đấy là nghĩa vụ thiêng liêng thì so với nó thật chẳng là chi để mà buồn.
Ngồi sát bên nữa là một đứa mà tôi cứ ngờ ngợ nhận không ra là ai, thằng này mặt mũi trắng trẻo, đặc biệt cặp lông mi rất dài và cong. Nó cứ ngồi ủ rủ. Tôi bắt chuyện. Hoá ra tên nó là Đức, ở thị trấn huyện, nó không học đến cấp ba nên tôi không biết nó. Hỏi tại sao nó buồn, nó trả lời vì phải xa người yêu. Nghe câu trả lời buồn bã, cả mấy đứa ngồi gần chung quanh quay lại trố mắt nhìn nó. Một đứa hỏi nó người yêu như thế nào, bao tuổi rồi, ở đâu, thì nó cứ lẳng lặng. Nhưng một đứa hỏi lúc lên đường người yêu có đi tiễn không, nó trả lời rằng không. Cảm thấy lạ lùng một đứa hỏi nó có phải người yêu nó chê nó đi lính nên bỏ nó phải không, nó lơ đãng bảo rằng không phải. Cuối cùng thì cả chúng tôi mới hay là nó mê một cô bé đang học lớp 11, thua nó ba tuổi, cô bé này học rất giỏi, nhà thuộc hàng khá giả ở thị trấn, nó thường lượn quanh nhà cô bé nhưng chưa từng được mời vào vì ông bố và bà mẹ cô bé rất khó. Thậm chí mà hình như cô bé cũng chẳng biết đến nó nữa. Ô hô, vậy hoá ra nó là kẻ trồng cây si âm thầm. Cả bọn chúng tôi muốn sặc cười, nhưng điệu bộ trang nghiêm của cu cậu đã ngăn lại, chớp cặp lông mi dài cong nó bảo tình yêu nó chân thành từ đáy tim rồi một lúc nào đó cô bé sẽ hiểu.
Nhìn vẻ mặt của nó tôi hơi thở dài, thằng này tướng mạo đa tình lại có vẻ sát gái, nếu tôi có em gái thì cũng không dại chi rước nó vào nhà. Mà quả thật, khi xe đi qua các vùng thành phố, cu cậu liền thay đổi ngay thái độ, trông có vẻ sinh động hẳn, cu cậu thò đầu ra nhìn không dứt bóng các cô gái lướt qua trên đường.
Cả đám chúng tôi sôi nổi hẳn khi được thông báo rằng khoảng 9 giờ sáng sẽ qua Huế. Cố đô Huế nổi tiếng chúng tôi chỉ được nghe nói đến nay sắp được đi ngang qua khiến ai nấy đều háo hức. Mấy thằng ngồi ở cuối xe cãi nhau inh ỏi, rằng kinh đô Huế được lập từ thời nhà Hồ. Tôi ngó xuống coi thì thấy cậu to mồm nhất là thằng Huy, nó khăng khăng với cả bọn dưới ấy bằng một lập luận hùng hồn rằng, để tiếm quyền nhà Trần thì Hồ Quý Ly sai người tìm đến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và được Trạng dạy: "Hoành Sơn nhất đái vạn đại dung thân" nên Hồ Quý Ly cho người vào xây Huế thành căn cứ để ngầm đối chọi với triều đình, sử sách thời kỳ ấy gọi là Tây Đô, hay còn gọi là thành nhà Hồ, về sau khi trải qua đến các triều Nguyễn thì thành nhà Hồ dần được sửa sang ra kinh đô Huế. Cả bọn ở cuối xe cười ầm ĩ, nhưng cũng vài ba đứa tỏ ra ngơ ngác.
Tôi biết rất rõ thằng Huy, nó từng có thời học với tôi nhưng lên đến cấp ba thì bỏ, tuy vậy không bao giờ nó chịu thua ai trong các vấn đề lý luận. Cãi chầy cãi cối là sở trường của nó. Việc nó rút dẫn ra rành mạch các điển tích về Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm với lời sấm dạy bằng chữ Hán của ông khiến một vài đứa đâm ra hoang mang...
Mải cãi nhau về kinh đô Huế chúng tôi đến lúc nào không hay. Xe chầm chậm đi ngang qua cố đô. Những cô gái Huế áo dài trắng thướt tha trên những chiếc xe đạp nhỏ dọc theo các con đường rợp bóng cây khiến chúng tôi nhìn theo ngơ ngẩn. Sông Hương lững lờ, núi Ngự ưu tư, cấm cung, thành quách nguy nga phía xa xa khiến chúng tôi như muốn chồm ra khỏi xe để ngắm kỹ hơn. Thật tiếc mọi cái đều chỉ lướt qua. Một thằng nào đó phía cuối xe lớn tiếng yêu cầu tài xế lái xe phải vòng lại để chúng tôi được chiêm ngưỡng Huế thêm một lần. Mấy thằng trước xe cũng nhao nhao cả lên. Nhưng đến khi viên trung uý dẫn quân đi lên tiếng thì cả bọn im lặng không dám yêu cầu này nọ nữa. Anh trung uý này là chỉ huy trong hai người có nhiệm vụ đưa đón đám tân binh chúng tôi. Nom anh ta trạc gần ba mươi, vẻ khá hiền, anh ta im lặng mặc chúng tôi suốt dọc đường cãi cọ huyên thuyên với nhau, chỉ vài trường hợp như xe đi ngang qua đám đông có các cô gái khiến các cậu lính trẻ thò đầu la hét trêu chọc thì anh ta mới lên tiếng mà thôi.
Qua kinh thành Huế chừng hơn năm mươi cây số xe đi đến vùng đèo Hải Vân.
Đấy cũng là lần đầu tiên tôi nhìn thấy biển...
Thật ra thì lúc qua đèo Ngang chúng tôi cũng đã thấy biển nhưng lúc ấy xe đi qua vào ban đêm nên hầu như chẳng thấy được gì ngoại trừ những ánh đèn chấp chới của thuyền đánh cá xa xa.
Sau này rất nhiều lần tôi được ngắm biển giữa các khung cảnh đặc sắc khác nhau. Nhưng lần đầu tiên thật sự được nhìn biển từ trên đỉnh của những ngọn núi vùng đèo Hải Vân chót vót tạo tôi một ấn tượng không thể nào quên được.
Đường vượt qua đèo Hải Vân dài 24 cây số, vòng vèo vắt ngang trên những ngọn núi hiểm trở, nhiều chiếc xe đủ loại nối nhau bò trên đèo. Đúng là chậm chạp bò như người leo trên bờ miệng vực hiểm bởi một lẽ không một bậc cha chú tài xế nào dám đi nhanh trừ trường hợp tha thiết muốn biết mặt tử thần. Những khúc ngoặt đột ngột, những đoạn dốc lên và những đoạn dốc xuống ngạt thở, nhiều đoạn một bên là vách đá dựng đứng còn bên kia là vực hun hút. Vùng đèo Hải Vân có lẽ là một trong những nơi nhiều hồn oan nhất nước. Chúng tôi sửng sốt thấy dọc theo con đèo có rất nhiều xác xe ô tô. Có những xác xe còn khá mới. Có những xác ô tô đã hoen rỉ nát nằm đong đưa giữa những lùm cây bò quấn quanh. Chắc hẳn những xác xe này bị rơi ở những vị trí khó cẩu lên được nên người ta bỏ mặc đấy luôn. Thật là những cảnh tượng kinh hoàng.
Trước khi xe chúng tôi vượt đèo thì trung uý chỉ huy dẫn quân đã nghiêm nghị ra lệnh khi xe vượt đèo mọi người đều phải tuyệt đối ngồi im. Tôi thấy mệnh lệnh này là chính xác, vì trên nhiều đoạn đường chênh vênh chiếc xe nghiêng hẳn sang một bên, chỉ cần người ngồi bên trong di chuyển lộn xộn làm xê dịch mất trọng tâm thì chiếc xe cà khổ này sẽ lệch ra khỏi đường mà lăn tròn xuống vực thẳm. Người lái xe tỏ ra bình thản, anh ta có vẻ là lính lái từng trải, miệng ngậm điếu thuốc phun khói mù mịt và mắt đăm đăm chăm chú nhìn về phía trước thây kệ hình ảnh những chiếc xe đổ nằm rải rác. Tôi may mắn ngồi sát cửa xe về bên trái nên thoải mái nhìn được ra mọi hướng, còn các cậu lính bạn ngồi ở bên phải hầu như chỉ nhìn vách đá núi lởm chởm nằm kề bên đường mà thôi.
Quả thực, trừ những người quá yếu tim phải bịt mắt không dám nhìn thì vùng đèo Hải Vân là kỳ vĩ tuyệt đẹp đối với bất kỳ ai một lần được đi ngang qua. Xe của chúng tôi bắt đầu bò lên đèo thì đám lính trẻ há hốc khi nhìn thấy con đường đèo nối tiếp phía trước nằm ẩn hiện trong mây vắt ngang núi bên kia với những chiếc xe trở nên nhỏ li ti bé tý bám đuôi lẫn nhau. Ngước lên thì cảm tưởng dường như con đường ấy chạy thẳng lên trời. Núi non trùng điệp với những ngọn cây cổ thụ hiên ngang. Những cánh rừng còn khá nguyên sơ với đủ loại cây tua tủa vươn thẳng, bọn chim chóc bay lượn, có lẽ có cả những con thú hoang nữa. Khi xe vượt lên được một chặng đèo hiểm trở, ở ngang trên một dãy núi cao chót vót, thì cả đám lính chúng tôi đồng loạt hét lên. Biển. Một không gian bao la đập thẳng ngay vào mắt chúng tôi. Thu gọn bóng trời xanh vào mình là biển thăm thẳm. Mọi cái bỗng vụt trở nên bé nhỏ. Biển mênh mông khoan thoai nằm kéo dài đến vô tận tầm mắt. Mặt biển phẳng lì như gương. Vầng mặt trời đỏ và lớp lớp những đám mây trắng cũng như bóng núi non cây cối đều hăm hở đua nhau chui tọt lộn ngược trong ấy. Một vài con thuyền đánh cá phía xa xa như những nét chấm phẩy điểm tô mông lung trên gương mặt biển khoan thai dịu dàng. Tôi ngẩn cả người không sao chớp mắt nổi... Về sau này, sống giữa biển, nhiều tháng ngày được chứng kiến biển với rất nhiều sắc thái khác nhau, và có những lúc thật vô cùng hung dữ gớm ghê, nhưng lần đầu tiên ngắm nhìn biển xanh với những nét khoan thai hiền dịu đã gieo một niềm tin cậy vững chắc về sự bao dung của biển cả luôn luôn không hề thay đổi trong trái tim tôi.
Vượt qua vùng đèo Hải Vân chúng tôi đến thành phố Đà Nẵng.
Tính ra quãng đường hơn 600 cây số từ quê tôi tới Đà Nẵng mà phải đi mất gần hai ngày thì cũng quá lâu, nhưng thời ấy đường xá rất tệ hại, sông Gianh lại chưa có cầu chỉ có phà rất ùn tắc, hơn nữa chiếc xe chở quân lại là quá cổ lỗ sĩ.
Lúc này đột nhiên tôi cảm thấy những người sĩ quan dẫn quân trở nên nghiêm nghị hẳn. Mấy cậu lính bạn của tôi cũng cảm thấy vậy. Ngoại trừ trung uý tuy nghiêm nghị nhưng còn có vẻ hiền hậu dễ gần còn người cấp dưới của anh ta mang một vẻ mặt nghiêm nghị cau có rất đáng sợ. Không khí thốt nhiên ngột ngạt, bọn tôi không dám to tiếng đùa giỡn nữa.
Trung uý ra lệnh:
- Sắp vào doanh trại. Đề nghị các đồng chí tân binh chỉnh đốn lại trang phục và khi vào doanh trại thì thực hiện theo mệnh lệnh sắp xếp của đồng chí Kiên
Kiên là tên của người cấp dưới, anh ta là chuẩn uý, riêng người lái xe chúng tôi không biết anh ta cấp bậc gì vì dù mặc quân phục có đeo phù hiệu hải quân nhưng không thấy anh ta đeo quân hàm, còn trung uý chỉ huy thì có tên là Dương.
Doanh trại huấn luyện tân binh nằm ngay ở ngã ba Sơn Trà, cách chợ chừng vài ba trăm mét. Khu doanh trại được bao bọc bằng lớp tường cao và có vẻ hơi cũ. Trước mặt và hai bên doanh trại đầy những hàng quán. Chúng tôi sẽ trải qua ba tháng huấn luyện tân binh gian khổ ở tại nơi đây.
Xe đưa thẳng chúng tôi vào doanh trại, một không khí nhốn nháo ngay lập tức làm tôi cảm thấy lạ lùng, đầu tiên là đủ mọi loại giọng nói. Ơi ới những tiếng Quảng Bình Quảng Trị trọ trẹ, tiếng Nghệ nặng trình trịch và tiếng Thái Bình dẻo quẹo, cả rất nhiều thứ tiếng nữa tôi không phân biệt nổi là của vùng nào. Rồi nữa là tôi thấy một số ít mặc quân phục đàng hoàng còn thì một số đông ăn mặc đủ mọi loại quần áo khác nhau. Tôi thấy nhiều đứa mặc quần thụng rộng thùng thình và áo đuôi tôm dài đủ màu sắc, một số đứa mặc quần áo đồ bò, nói chung số đông ăn mặc hỗn tạp này đều có vẻ lơ ngơ lác ngác như đám chúng tôi vậy. Hoá ra chúng cũng là tân binh như chúng tôi và cũng chưa có quần áo quân tư trang.
Doanh trại huấn luyện tân binh khá rộng. Diện tích ước chừng trên hai ngàn mét vuông, nổi bật là bốn dãy nhà mái lợp tôn rất dài và một cái sân cát cứng rất rộng nằm ở giữa. Ở trong doanh trại hầu như không có cây cối. Trung uý Dương dẫn chúng tôi tới một dãy nhà nằm hơi biệt lập, có khá nhiều phòng, đấy là dãy nhà chỉ huy. Anh ta quay sang dặn nói gì đó với chuẩn uý Kiên, rồi bước vào nhà chỉ huy.
Chuẩn uý Kiên với vẻ mặt lạnh như tiền quay sang hô chúng tôi xếp thành hai hàng. Một vài đứa tỏ ra chậm chạp bị trừng mắt vội vàng đứng ngay ngắn vào vị trí. Tôi cảm thấy hơi căng thẳng. Một lát sau, trung uý Dương đi ra, theo sau là một người khác mang cấp bậc thượng uý, anh ta không ngó chúng tôi mà chăm chú ngó vào cuốn sổ lớn kẹp trên tay và miệng thì làu bàu gì đó.
Chúng tôi căng thẳng theo dõi cử chỉ của người thượng uý này. Sau khi bớt càu nhàu, anh ta mới quay sang nhìn chúng tôi, cặp mắt nhìn lướt qua có lẽ là đếm nhanh có đủ hai mươi người hay không. Rồi anh ta cúi đầu vào cuốn sổ gọi tên từng đứa. Chúng tôi từng đứa một lần lượt điểm danh. Anh ta đọc đến tên ai, người đó bước ra khỏi hàng, được nghe về thông tin của mình. Đến lượt tôi, tôi biết mình thuộc đại đội 3, trung đội 1, tiểu đội A5.
Xong xuôi anh ta lại càu nhàu điều gì đó với trung uý Dương và chuẩn uý Kiên, trung uý Dương cười có vẻ bình thản, còn chuẩn uý Kiên lộ vẻ hơi lo lắng. Thế rồi chuẩn uý Kiên được nhận một mảnh giấy từ vị thượng uý hay càu nhàu ấy và dẫn chúng tôi với hàng ngũ chỉnh tề về phía các dãy nhà dài.
Đến trước sân, Chuẩn uý Kiên dừng lại, nghiêm giọng nói với chúng tôi:
- Từ nay, các anh đã là quân nhân, các anh sẽ thật sự bước vào đời lính với ba tháng huấn luyện huấn luyện tân binh tại đây. Yêu cầu đầu tiên cho các anh là phải tuân thủ kỷ luật. Tuyệt đối tuân thủ kỷ luật! Rõ chưa!
Tiếng "rõ chưa" khiến chúng tôi giật mình. Lừ cặp mắt, chuẩn uý Kiên nói tiếp:
- Trong buổi chiều hôm nay các anh sẽ tạm được nghỉ ngơi sau hai ngày đi đường vất vả. Ngày mai các anh sẽ được phát quân tư trang gồm ba lô quần, áo, mũ, giày, dép và đồ dùng sinh hoạt của quân nhân. Ngày mốt sẽ là lễ khai mạc huấn luyện...
Nhíu mày và chuẩn uý Kiên tiếp tục:
- Các anh chỉ được sử dụng đồ quân nhân mà người ta phát cho các anh mà thôi. Những đồ sinh hoạt của các anh như quần áo mũ dép yêu cầu đóng gói lại rồi gửi vào nhà kho. Những ai có tiền nhiều hoặc có đồ vật quý giá, tôi khuyên cũng nên gửi cho cấp trên, sau này sẽ hoàn trả lại, không nên lưu giữ tiền nhiều và đồ vật quý trong mình. Ai tóc quá dài sẽ phải cắt ngắn, yêu cầu tóc húi cua ba phân, không được cắt đầu trọc. Móng tay móng chân không được để dài. Mọi kỷ luật về sinh hoạt đã được ghi rõ trên bảng của từng đại đội, ai vi phạm sẽ bị phạt nặng, các A trưởng sẽ phổ biến giải thích cặn kẽ hơn cho các anh.
Chỉ tay vào ngay mấy cậu đứng ở đầu hàng chuẩn uý Kiên bảo rằng tóc như vậy là hơi dài, cần cắt ngắn. Chỉ tay vào một cậu đứng rụt rè phía dưới chuẩn uý Kiên ra lệnh cho cậu ta đứng tách ra cho mọi người ngắm, nói với mọi người rằng tóc như cậu này là chuẩn, hãy nhìn theo đó để liệu mà coi lại tóc tai của mình.
Trong đầu óc tôi thoáng có ý nghĩ con dao găm ăn cướp mà thằng Tùng tặng vậy là đi tong rồi.
Đi vòng quanh, nhìn khắp lượt từng cậu lính trẻ, chuẩn uý Kiên trầm giọng, có vẻ dịu hơn:
- Các anh sẽ được hoà nhập trong một môi trường mới mà yêu cầu về kỷ luật rất khe khắt, khác hẳn với cuộc sống mà các anh từng biết đến. Tất cả các anh đều không ai giống ai, mỗi người một tính nết riêng, sống ở từng địa phương mang tập quán lối sống riêng, bởi vậy giờ đây các anh hãy cố gắng hoà vào môi trường chung, hãy luôn nên giúp đỡ lẫn nhau, luôn coi nhau là đồng chí đồng đội. Tình đồng chí đồng đội, các anh hãy nhớ, đó là cái quý nhất của người quân nhân!
Dừng chân lại, chuẩn uý Kiên nói:
- Nào, bây giờ tôi sẽ đưa các anh về từng đại đội của mình.
Đang chuẩn bị bước đi, bỗng một cánh tay giơ lên, tôi nhận ra đấy là thằng Đức có cặp lông mi dài. Nó giơ tay như học trò xin phát biểu, chúng tôi ngạc nhiên xem nó muốn gì.
Nó hỏi:
- Thưa anh, bọn em có được giữ lại sổ bút giấy để viết thư không ạ!
Chúng tôi muốn bật cười vì nghĩ tới người trong mộng đang học lớp 11 của cậu ta nhưng thấy câu hỏi cũng có lý vì không chỉ nó mà ai cũng đều có nhu cầu viết thư cho người thân, bạn bè. Chuẩn uý Kiên phẩy tay ngắn gọn: "Được, cái đó không cấm" rồi dẫn chúng tôi đi về dãy nhà thứ nhất. Có nhiều đứa lộ vẻ thấp thỏm, miệng lẩm bẩm gì đó, hình như cố nhẩm cho thuộc những thông tin khi nãy vị thượng uý hay càu nhàu đã đọc cho nghe.
Tôi bật cười, bọn này lo xa, nếu chúng có quên thì mảnh giấy trên tay của chuẩn uý Kiên sẽ nhớ hộ, mà dù giả sử điều gì đi chăng nữa thì khi đã vào đến đây không thể nào bọn chúng lạc đâu được. Quả thật, đến dãy nhà thứ nhất, khi có rất nhiều người vẻ già dặn hơn chúng tôi ăn mặc quân phục nghiêm trang đứng đón, chuẩn uý Kiên rút mảnh giấy ra và đọc lại danh sách của những đứa thuộc đại đội Một.
Những đứa được đọc bước ra, hoá ra những người ăn mặc quân phục nghiêm trang già dặn ấy là những A trưởng tức là những tiểu đội trưởng, họ là những người lính cũ được chọn để hỗ trợ huấn luyện cho những người lính mới. Các A trưởng nhận người thuộc vào tiểu đội của mình và sau đó đưa vào bên trong. Chuẩn uý Kiên tiếp tục dẫn chúng tôi sang những dãy nhà tiếp theo. Tôi thuộc đại đội Ba nên được đón nhận ở dãy nhà thứ ba.
Qua giọng nói tôi đoán A trưởng của tôi là người Thái Bình, như các A trưởng khác anh ta có dáng vẻ cao to và gương mặt sạm đen từng trải. Lập tức từ đôi mắt mà anh ta quét thẳng giữa mặt tôi, tôi có cảm tưởng phân biệt thứ bậc rất rõ ràng, đây sẽ là người chỉ huy trực tiếp của tôi. Thái độ của anh ta tỏ đúng rõ là người chỉ huy tôi. Anh ta ngắn gọn: "- Tôi là hạ sĩ, tên là Quang, nào, đi theo tôi." Quay mặt lại thật nhanh để làm động tác chào tạm biệt bằng mắt với mấy cậu lính bạn cùng huyện đang lớ ngớ đứng bên chuẩn uý Kiên tôi vội vã xách vác số hành lý ít ỏi của mình đi theo hạ sĩ Quang.
Dãy nhà thật là lạ kỳ, trần nhà rất cao, lợp bằng những mảnh tôn lớn, cột và xà thiết kế bằng các thanh sắt thép không rỉ to nhỏ đủ loại đỡ nối lên nhau bằng các ốc vít rất lớn, cấu tạo thành một căn phòng rộng mênh mông có thể chứa được hàng trăm người. Sau này tôi mới được biết cũng như nhiều cơ sở hạ tầng khác của vùng Ba thì dãy nhà này là từ những chiến lợi phẩm của Mỹ đã đuợc người ta sửa sang lắp ghép thêm. Giữa căn phòng mênh mông ấy là các mảnh gỗ khá lớn được lắp ghép thành các dãy phản nằm kề sát nhau. Đủ các cậu lính trẻ như tôi vẻ mặt ngơ ngác ngồi trên ấy. Hạ sĩ Quang dẫn tôi đến một dãy phản có đánh số D3T1A5, nhìn dòng chữ tôi đoán ngay là chữ viết tắt của đại đội 3, trung đội 1, tiểu đội A5.
Trên dãy phản có dăm sáu cậu ngồi lố nhố. Chỉ cho tôi một chiếc phản trống, hạ sĩ Quang bảo tôi để đồ đạc lên đấy. Rồi quay sang mấy cậu đang ngồi ngẩn tò te nhìn tôi hạ sĩ Quang chỉ tay vào giới thiệu đấy là những người cùng tiểu đội với nhau, hãy làm quen, còn anh ta sẽ phải đi đón hai người nữa sắp sửa đến trong buổi chiều nay. Chúng tôi gật đầu lạ lùng làm quen.
Kéo tôi ra một góc, hạ sĩ Quang khiến tôi ngẩn ngơ khi nói, nếu có nhiều tiền hoặc thứ gì quý giá như đồng hồ dây chuyền nhẫn vàng thì phải giữ gìn, tốt nhất nên gửi cho cấp trên, nếu không thì phải luôn cẩn thận giữ trong người.
Tôi vâng dạ mà trong bụng cứ băn khoăn, cha mẹ tôi có đưa cho tôi một ít tiền để tiêu, nhưng rõ ràng chẳng nhiều nhặn gì, mấy đồng bạc ấy có lẽ tôi nên giữ lại trong người thì hơn chứ chẳng nên phiền hà đến cấp trên làm gì.
Khi hạ sĩ Quang đã đi xa. Đang suy nghĩ ngẩn ngơ thì một giọng trọ trẹ cất lên:
- Mi ngồi xuống đây với bọn choa nì, đứng a rứa làm chi?
Tôi nghe không hiểu nó nói gì, vì nó đã nói trọ trẹ mà phát âm lại nhanh nữa, giương mắt nhìn thì cậu hỏi tôi có vẻ mặt dễ mến, lấm tấm những tàn nhang. Nó lập lại lại câu nói khi nãy và chỉ tay vào chỗ trống cạnh nó, tôi hiểu nó bảo tôi ngồi nhập bọn.
- Mi tên là chi?
Tôi đã nghe ra được, nên trả lời:
- À, tớ tên là Hiển, còn các cậu tên là gì?
Nó trả lời:
- A, tau tên là Hiệp, quê tau ở Quảng Trị. Còn thằng ni tên là Hùng, quê Quảng Bình. Thằng ni tên Thắng, thằng ni tên Đức đều quê Thái Bình. Hai thằng nớ đều tên là Dũng cùng quê Nghệ An. Còn một thằng người Nghệ An nữa, tên là Phúc, nhưng nó ra ngoài đi chơi mô rồi!
Nghe đến tên Dũng trùng tên với đứa bạn thân tôi bất giác nhìn kỹ, hai đứa tên Dũng một đứa to con một đứa nhỏ con nhìn có vẻ trái ngược nhau. Đứa to con đen đúa nhưng lại đầy vẻ chất phác hiền hậu. Còn đứa nhỏ con trắng trẻo nhưng thoạt nhìn đã thấy toát lên gương mặt khá lì, nó nhếch mép mỉm cười với tôi.
Thằng được giới thiệu tên là Thắng cười:
- Bọ ơi, tiếng của bọ khó nghe quá, đừng có mô tê răng rứa nữa, bọ nói tiếng phổ thông cho bọn con nhờ.
Tiếng của thằng này dẻo quẹo, nhưng rõ ràng là dễ nghe hơn thằng Hiệp nhiều. Mấy đứa cùng bật cười trừ thằng Dũng nhỏ. Thằng Hiệp chẳng tỏ vẻ gì là giận cả, nó nói:
- Bọ sinh ra ở mô thì bọ phải nói tiếng nớ chớ!
Từ "bọ" của người Quảng Bình Quảng Trị hình như có nghĩa là bố thì phải, tôi đang cố nhớ như vậy thì nghe thằng Dũng nhỏ nói:
- Thôi đi mi, mi đừng lôi tiếng nói ra mà chê bai, dân Nghệ choa cũng nói như rứa đó!
Giọng của thằng Dũng nhỏ ngầm một vẻ đe doạ. Thằng Thắng có vẻ hơi lúng túng. Nhất là khi ánh mắt của thằng Dũng nhỏ cứ nheo lại chiếu thẳng vào nó. Cả bọn nín bặt...
Trong những trường hợp này tôi thường là người có khả năng tháo gỡ. Tôi biết ngay mình phải làm gì nên mỉm cười nói:
- Tiếng nói mỗi vùng đều có cái hay và cái dở riêng, đến ngay tiếng Hà Nội, Huế, Sài Gòn cũng đều bị chê nữa là. Nhưng bọn mình ở nhiều vùng khác nhau nếu cứ mỗi đứa nói theo từng vùng thì rất khó hiểu nhau. Theo tao nghĩ có lẽ mình nên nói tiếng phổ thông cho dễ nghe thì hơn.
Thằng Thắng người Thái Bình thở phào, thằng Dũng nhỏ hơi gật đầu, còn cả bọn kia cũng đều tỏ đồng tình.
Thằng Hiệp ngắc ngứ:
- Nhưng tau thấy khi tau nói tiếng phổ thông cứ ngọng ngọng ra răng!
Thằng Đức người Thái Bình nói:
- Có gì là khó đâu nhỉ...
Thằng Hùng người Quảng Bình, thằng có nước da đen thui, cướp lời:
- Mi người Thái Bình gần thủ đô thì nói tiếng phổ thông là dễ rồi.
Lúc này thằng Dũng to mới lên tiếng:
- Tao thấy cũng chẳng khó lắm, tao là người Nghệ An dùng rất nhiều từ địa phương thì chỉ cần thay một số từ như mô tê răng rứa và những từ khó hiểu khác là được. Còn ngữ âm thì mình chẳng cần gì mà phải thay đổi. Nói ra tiếng phổ thông cũng đơn giản là chứ có gì đâu.
Quả thật, nó nói tiếng phổ thông, nhưng ngữ âm vẫn giữ nguyên sự nặng trịch của người Nghệ.
Cậu ta nói thêm:
- Thật ra thì mới đầu tao cũng thấy mình hơi ngọng ngọng thật, nhưng chỉ cần nói vài ba lần thì quen thôi. Mẹ kiếp, cái đợt tao lần đầu tiên ra Hà Nội đi buôn, nói chẳng thằng Hà Nội nào hiểu cả, họ cứ tưởng tao nói tiếng Campuchia.
Cảm thấy thích thú với cái chuyện nó nói, cả bọn chăm chú nghe, tôi hỏi:
- Cậu từng đi buôn tận Hà Nội rồi hả? Cậu đi buôn gì vậy, không phải buôn lậu đấy chứ?
Gương mặt đen đúa của thằng Dũng hơi thoáng đỏ một tý:
- Buôn lậu gì, tao đi buôn gạo thôi. Gạo ở nhà mấy bác hợp tác ép mua giá rẻ quá, cả xã tao chẳng ai muốn bán. Tao bàn với mấy thằng bạn gom mấy tạ gạo nhà đem ra thành phố thử bán xem sao, lúc đầu định đem xuống Vinh nhưng rồi bọn tao quyết định đem hẳn ra Hà Nội vì xã tao thuộc Quỳnh Lưu đi ra Hà Nội cũng chẳng xa hơn bao nhiêu so với đi Vinh. Sư cha nó, mới đầu bọn tao mừng húm tưởng hời vì bán được giá hơn hẳn ở quê, nhưng sau tính toán ra tiền tàu xe ăn uống mọi cái hoá ra là lỗ. Được cái nhờ đi buôn rồi cũng biết thủ đô.
Tôi ngó kỹ lại nó, thằng này mặt mày chất phác thật thà, đi buôn lỗ là đúng rồi.
Thằng Dũng to kể tiếp:
- Sau cái lần đi buôn đầu tiên bọn tao quyết tâm làm chuyến nữa. Tổ sư cha, lần này mới là điêu đứng, lần trước lớ ngớ thế nào bọn tao còn gặp được người mua cho chứ lần này lại chẳng ai mua cho cả. Vì người mua một lúc nhiều gạo như vậy cũng chỉ để mà buôn thôi. Bọn tao ở giữa thủ đô với một đống bì gạo, công an cảnh sát đuổi, tính định chia nhau ra đem tới các chợ thủ đô bán lẻ như mấy con mẹ bán gạo ở quê thì gặp phải mưa to làm gạo hư hết. Cuối cùng sau ba ngày ăn uống hết tiền chẳng còn một xu nào bọn tao phải nhảy xe về vứt đống gạo mốc đấy, không trả được tiền xe suýt nữa còn bị đập cho một trận nên thân.
Thằng Đức bần thần:
- Bọn mày đi buôn như vậy thì đáng ra phải kiếm mối mua trước rồi mới đem hàng ra chứ.
Thằng Dũng thở dài:
- Ừ, rồi bọn tao cũng tính như vậy. Lần thứ ba bọn tao cho một đứa ra trước hẳn Hà Nội tìm chỗ đại lý mua bán gạo thỏa thuận trước với họ để đem gạo ra họ mua cho mình. Họ đồng ý rồi giục đem mau ra. Bọn tao yên tâm thu gom gạo tưởng rằng chuyến này sẽ kéo lại vốn cho mấy chuyến trước. Nhưng, sư cha cái bọn khốn, đến nơi họ chê ỏng chê eo gạo xấu, chỉ mua với một phần năm giá thoả thuận. Đã thế khi bọn tao không muốn bán nữa định đem đi chỗ đại lý khác thì có mấy tay đầu gấu từ đâu kéo đến cứ lừ lừ lấy dao cắt rạch các bì gạo, mấy thằng bọn tao khùng lên định chơi lại chúng nhưng trong tay chẳng có gì, cuối cùng phải nghiến răng chấp nhận bán gấp cho đại lý khốn kiếp ấy. Bọn tao nghĩ mấy thằng đầu gấu chắc là tay chân của thằng cha đại lý bán gạo... Mẹ kiếp, sau ba lần buôn gạo thất bại, nhà tao lại phải đi vay gạo mà ăn, tao bị cha mẹ chửi cho tơi bời. Ở quê quanh năm quần quật trên ruộng đồng cũng chỉ làm ra được hạt lúa hạt gạo, bán cho mấy bác hợp tác thì như bị đem cho, đem bán ra ngoài thành phố thì như bị ăn cướp, tao chán nản quá, nên khi có giấy gọi nhập ngũ tao đi luôn.
Cả bọn im lặng.
Thằng Hùng chép miệng:
- Tau... à ờ... tao cũng như... mày, con nhà nông, chẳng có công ăn việc làm gì, chỉ được mấy sào ruộng lèo tèo trồng cây chi cũng khó mọc, có giấy gọi nhập ngũ tao đi quách.
Tôi quay sang thằng Thắng, thằng này có dáng không phải dân nhà nông, hỏi:
- Chắc cậu thì không phải làm ruộng như bọn tớ?
Nó đáp gọn lỏn:
- Ừ, nhà tớ ở thị xã.
Thằng Hiệp hỏi liền:
- Vậy sao đi lính?
Nó có vẻ định không trả lời, quay mặt đi, nhưng khi gặp ánh mắt của cả bọn chĩa vào, không nén được, nó hãnh diện:
- À ờ... chú ruột tao... ông chú ruột tao là thiếu tá hậu cần vùng Ba đây, ông viết thư khuyên bố mẹ tao nên cho tao vào đây rồi ông sẽ tìm cách giúp đỡ.
Mấy đứa cùng gật gù, nó là dạng lính con ông cháu cha, thằng Dũng nhỏ ngáp dài:
- Ái chà chà, thì ra mày là lính cậu... Chặc, chặc, còn tao, do sợ tao ở nhà phá làng phá xóm nên ông già và bà già tao một hai bắt tao vào lính để quân đội rèn luyện cho tao thành người.
Nó cũng đang nói theo tiếng phổ thông, nhưng cách nói còn ngọng nghịu chưa nhuần nhuyễn như thằng Dũng to đồng hương của nó.
Tôi nhìn nó:
- Tớ nghĩ bố mẹ cậu suy nghĩ đúng.
Thằng Dũng nhỏ chằm chằm cặp mắt sắc nhìn tôi. Phớt tỉnh cặp mắt của nó, tôi quay sang nói với cả bọn:
- Quân đội sẽ dạy cho bọn mình nhiều điều quý. Theo tao nghĩ, quân đội là một trường học đặc biệt, sau ba năm thì bọn mình sẽ trưởng thành hơn rất nhiều.
Thằng Dũng nhỏ gằn giọng:
- Ừ, cả bố mẹ tao và mày đều đúng, chỉ có tao là sai mà thôi. Mẹ kiếp, trong nhà, trong làng xóm hầu như tao luôn bị coi là sai!
Tôi nói với nó bằng giọng an ủi:
- Tớ ngó thấy cậu mặt mũi sáng sủa thông minh lại có vẻ can đảm. Cậu đừng làm gì sai trái với lương tâm của cậu là được rồi. Còn sự đúng sai thì ai đã nói được đâu, cậu hẳn biết đấy, thế gian này rất nhiều kẻ dám vỗ ngực là nắm được đúng chân lý thường lại là làm những điều xằng bậy. Loại người đó mới thật nguy hại.
Lăm lăm cặp mắt sáng quắc chĩa vào tôi, thấy tôi vẫn bình thản, thằng Dũng nhỏ bất giác thở dài:
- Ừm, kể ra mày nói cũng có lý...
Mấy đứa kia im lặng nghe tôi và thằng Dũng nhỏ trao đổi những điều ấy với nhau.
Thằng Dũng nhỏ hỏi tôi:
- Chắc mày học giỏi lắm, sao mày không tiếp tục học tiếp...
Đang định tiếp tục câu chuyện với nó thì hạ sĩ Quang dẫn thêm hai đứa nữa đến, một thằng rất gầy tay chân khẳng khiu thành ra nom nó cao lêu nghêu như cây sào, còn thằng kia tầm thước nhưng đặc biệt là tóc nắng cháy đến mức vàng khè. Hạ sĩ Quang sắp đặt hai cậu này cất hành lý vào chỗ hai chiếc phản trống còn lại, rồi cũng dặn dò những lời như dặn dò với tôi thì phải... Ngay lúc ấy thì cái thằng được thằng Hiệp tàn nhang giới thiệu lúc nãy là Phúc đi chơi ở đâu về. Thằng này béo ục ịch, vẻ mặt hồng hào hớn hở, nụ cười toe toét. Rõ ràng nó là đứa rất vô tư lự.
Thằng cao gầy mới tới có tên là Hải, người Hà Tĩnh, còn thằng tóc nắng cháy là Minh, người Quảng Bình, sinh sống ở một huyện vùng biển suốt ngày lặn lội với biển nên tóc nó cháy vàng.
Sự có mặt của A trưởng khiến đám chúng tôi vụt trở nên rụt rè. Trừ thằng Dũng là cặp mắt lừ lừ, chẳng biết nó nghĩ gì.
Hạ sĩ Quang nói:
- Có ai muốn đi tắm thì đi đi. Bể nhà tắm ở đằng sau. Nhưng không nên đi hết một lúc, một số ở lại canh đồ đợi tắm sau. Nhớ rằng còn khoảng hơn một tiếng nữa sẽ ăn cơm. Đừng có đi lung tung.
Anh ta nói vậy rồi quay lưng đi. Đợi anh ta đi khuất thằng Phúc cười toe toét:
- Tau lúc nãy định ra ngoài doanh trại chơi, bị mấy anh cảnh vệ gác cổng nạt cho một trận. Tổ sư cha, ra ngoài kia có phải đi ăn trộm đâu mà hạnh họe với con người ta rứa!
Tôi nói với mấy thằng kia:
- Mình đi tắm đi thôi... Coi ai đi trước nào?
Có nhiều thằng vẻ như không muốn dứng dậy, tôi ngạc nhiên, lẽ nào bọn này ở bẩn vậy, hai ba ngày trên xe đi đường đầy bụi bặm mà chúng không muốn tắm cho sạch đi .
Tôi đứng lên, đùa giọng nhà binh:
- Vậy thì tôi đi tắm đây, nhờ các đồng chí canh gác quân tư trang hộ nhé.
Hai thằng Dũng, thằng Phúc và thằng Hiệp cũng đã tỏ sẵn sàng lấy đồ đi tắm, thằng Đức ngần ngại chút ít rồi cũng đứng lên. Tôi quay lại nói với mấy cậu kia:
- Vậy bọn tớ đi tắm trước, nhờ các cậu canh đồ cho với nhé.
Nhà tắm ở phía sau cách khu nhà đại đội khoảng năm mươi mét. Xem ra mỗi đại đội có một nhà tắm riêng. Ở đây có khá đông các cậu lính trẻ như tôi đang lóng ngóng bu nhau. Nói là nhà tắm cho oai chứ thực ra nó là một bể xi măng rộng, xung quanh cũng được láng nền cẩn thận, nước được phun chảy từ một cái vòi đặt ngầm trong bể và so với nước sông quê tôi hay lội tắm thì trông cũng có vẻ khá sạch. Tôi đang ngó nhìn và đánh giá khu nhà tắm đại đội thì nghe có tiếng reo:
- A, Hiển đấy à!
Quay lại thì ra là thằng Huy, cậu bạn vua cãi chày cãi cối cùng huyện. Tôi vui vẻ:
- A, Huy, mày cũng đi tắm à!
- Ừ, tao đi tắm đây! Thằng Huy tỏ vẻ mừng rỡ thật sự: - Tao đang muốn đi kiếm bọn mày cho đỡ buồn, chỗ tiểu đội tao toàn bọn lạ hoắc, nó nói gì tao không sao hiểu nổi.
- Tiểu đội mày toàn người Nghệ An Quảng Bình à?
- Không, người Thái Bình!
Tôi ngạc nhiên:
- Ơ, tiếng Thái Bình thì đâu có khó nghe.
Thằng Huy tỏ vẻ bực dọc:
- Không, bọn này nói nhanh quá, mà thực ra khó nghe ở chỗ là chúng cứ thầm thầm thì thì với nhau. Tiên sư chúng, có cái quái gì mà chúng phải thậm thà thậm thụt chứ. Cứ hễ có mặt tao đứng gần là chúng nín khe, còn tao đứng xa xa là mấy thằng cứ chụm đầu như mấy đàn bà ngồi lê chuyện hàng xóm vậy...
Tôi cảm thấy buồn cười, thằng này tính tình hay cãi cọ khó hoà hợp, kêu ca cái gì. Bên tai, thằng Huy vẫn sôi nổi:
- Tao đang tính tìm mấy đứa trong huyện cùng đại đội với mình thì tiểu đội trưởng giục đi tắm, tao gặp mày ở đây... Vậy mày đã gặp lại thằng nào chưa?
Tôi trả lời:
- Cũng chưa, tao cũng muốn tìm gặp mấy đứa ấy lắm. Có dăm sáu đứa trong huyện cùng một đại đội ở chung cùng một nhà thì cũng dễ kiếm thôi. Còn mấy đứa ở các đại đội khác thì chắc khó kiếm hơn. Nhưng mà chẳng đi đâu mà vội. Bọn ấy không thể lạc đi đâu mà sợ. Cứ làm quen với mấy cậu cùng tiểu đội trước đã...
Thằng Huy hậm hực:
- Làm quen, mẹ kiếp, sao tao thấy ghét mấy thằng cùng tiểu đội với tao quá!
Tôi nói giọng dàn hoà:
- Thôi mình lo tắm rửa cái đã, mày đừng nghĩ bậy nghĩ bạ nữa, Huy à!
Ngó lại thì thấy mấy cậu bạn cùng tiểu đội với tôi đang đứng xớ rớ, chỉ riêng có thằng Dũng nhỏ là đã cởi quần áo ra chỉ còn mặc độc chiếc quần đùi, thái độ vẻ khá hiên ngang. Người thằng này nhỏ, nhưng cơ bắp, và động tác rất nhanh nhẹn. Tôi cũng cởi quần áo ra. Thằng Huy thấy vậy cũng cởi quần áo. Mấy thằng cùng tiểu đội của tôi cũng lục tục cởi quần áo.
Nước mát rượi, xối đổ trên đầu chảy xuống toàn bộ thân thể thật là khoan khoái. Những giọt bước long lanh đậu trên tóc từng đứa. Nhưng có điều người tắm thì đông mà gàu múc được có ít cái nên cứ phải chờ nhau. Thằng Dũng nhỏ đã giành được một chiếc gàu cho cả bọn kéo riêng ra tắm phía một góc bể. Khi thấy thằng Huy đến cúi xuống lấy chiếc gàu với vẻ mặt nhăn nhó và miệng thì làu bàu gì đó, thằng Dũng trừng mắt:
- Mi là ai?
Thằng Huy giật mình ấp úng... Tôi nói với nó:
- Đây là Huy, bạn cùng huyện với tao.
Thằng Dũng nhỏ cười:
- Rứa à, gàu đây, dội thoải mái đi!
Tắm táp kỳ cọ sạch sẽ xong bọn tôi về lại nhà đại đội. Trên đường về thằng Huy khều tay tôi, chỉ về thằng Dũng, hỏi nhỏ tôi: "Thằng nào thế!" Tôi cười với nó, phẩy tay, nhìn điệu bộ của tôi thằng Huy gục gặc đầu có vẻ yên tâm. Nó chỉ cho tôi biết dãy phản tiểu đội của nó trước khi tạm biệt.
Mấy đứa còn lại trong tiểu đội cũng đứng lên lấy đồ đi tắm. Nhưng riêng thằng Thắng lính cậu là không đi.
Đến năm giờ chiều thì chúng tôi được đi ăn cơm.
Cơm nước xong, mấy đứa trong tiểu đội chúng tôi cũng chẳng được đi đâu lung tung, hạ sĩ Quang lúc này ở bên cạnh chúng tôi không rời. Nhiều đứa lại trở nên rụt rè ngoài thằng Dũng nhỏ với ánh mắt lừ lừ lì lợm của nó và thằng Thắng lính cậu. Thằng Thắng cứ cười cười nói nói thì thì thầm thầm những điều gì đó với hạ sĩ Quang. Bất giác tôi thở dài, hoá ra thằng Huy cũng có lý, chắc nó rơi vào tiểu đội toàn lính cậu. Tám giờ tối hạ sĩ Quang lệnh cho chúng tôi đi ngủ. Nằm lên chiếc phản của mình, tôi trăn trở, gỗ ván cứng nằm không quen, đầu óc cứ chập chờn. Tôi cố xua đuổi những ý nghĩ cứ luẩn quẩn trong đầu, tại sao cấp trên dặn đi dặn lại chuyện giữ tiền nong nhỉ, chẳng lẽ có tình trạng trộm cắp nơi đây. A, mà thằng Thắng không đi tắm, chắc nó có nhiều tiền và sợ mất cũng nên. Nhưng rồi hai ngày đi đường mệt nhọc tôi thiếp đi lúc nào không hay.
...
Keng keng keng...
Keng keng keng...
Keng keng keng...
Ba bốn hồi kẻng dài như ngân nga bên tai làm tôi giật cả mình. Chuyện gì thế nhỉ?
Sau ba hồi kẻng là tiếng một bản nhạc rất gắt được phát ra từ những cái loa phóng có lẽ là được treo cao ở những nơi nào đó. Chuyện gì thế nhỉ?
Nhưng rồi nhớ ngay ra rằng mình đã là một quân nhân nên tôi lồm cồm bò dậy. Mấy thằng cùng tiểu đội với tôi cũng lồm cồm bò dậy. Quay sang, tôi thấy thằng Phúc béo người Nghệ An há hốc miệng đang ngủ say sưa, có lẽ thằng này có đem súng bắn bên tai nó cũng không biết. Đang nghĩ có nên lay nó dậy hay không, tôi nghe tiếng quát:
- Dậy, dậy đi!
Tiếng quát là của hạ sĩ Quang, sau tiếng quát to của hạ sĩ Quang ở các dãy tiểu đội khác tôi cũng nghe nhiều tiếng quát to không kém có lẽ là của các A trưởng khác.
Thằng Phúc vẫn say sưa. Hạ sĩ Quang đến nắm lấy vai lay mạnh: "- Dậy đi!", cu cậu mở một mắt ra, miệng làu bàu:
- Chi rứa?
Rồi xoay lưng ngủ tiếp.
Hạ sĩ Quang túm lấy cổ áo thô bạo kéo xềnh xệch nó ra khỏi phản, rồi lấy hai tay xốc nách dựng nó đứng trên mặt đất cũng bằng các động tác nhanh và mạnh không kém..
Lúc này thằng Phúc béo mới tỏ ra tỉnh hẳn. Cu cậu tỏ ra ngơ ngác.
Tôi ngoái lại phía các đứa khác, bọn kia cũng đều đã dậy cả đang chăm chú sợ hãi nhìn màn kịch giữa A trưởng và thằng Phúc, riêng thằng Dũng nhỏ làm tôi ngạc nhiên khi nó không hề để ý đến ai mà là đang vặn mình bằng một số động tác khá kỳ lạ.
Hạ sĩ Quang hô to:
- Các đồng chí mau đi thực hiện vệ sinh cá nhân, sau 15 phút sẽ đi ăn sáng.
Tôi vội vã lục tìm khăn mặt và bót đánh răng trong túi hành lý ít ỏi của mình. Mấy đứa kia cũng vậy. Riêng thằng Thắng lính cậu là tỏ vẻ lo lắng khi thò tay trong cái túi hành lý to đùng của nó.
Vệ sinh cá nhân và ăn sáng xong, hạ sĩ Quang tập hợp chúng tôi lại, đưa ra một cái kéo một cái lược và hỏi có đứa nào khéo tay biết cắt tóc không. Thằng Hiệp tàn nhang vẻ ngập ngừng rồi giơ tay nói nó biết cắt. Hạ sĩ Quang vui vẻ ra mặt, chỉ tay vào đến hơn nửa số đứa trong tiểu đội và lệnh cho thằng Hiệp cắt tóc bọn chúng. Anh ta nói cặn kẽ với thằng Hiệp cắt ra sao, thằng Hiệp gật đầu lia lịa.
Tóc của tôi cũng phải cắt, nhưng chỉ hớt bớt một đôi chỗ vì tôi mới cắt ở nhà nên tóc không dài lắm.
Đến quãng chín giờ sáng thì tóc tai cả bọn đã gọn gàng. Phải thừa nhận thằng Hiệp thật khéo tay. Nó cắt như một thợ hớt tóc Huế chuyên nghiệp, kéo khua lách cách, lược đưa nhịp nhàng... Tôi hỏi nó học được nghề cắt tóc từ ai, nó chua chát trả lời đã từng học nghề rồi đi làm thợ cắt tóc ở một tiệm nơi thị xã Đông Hà nhưng chủ tiệm ép nó trả tiền lương quá thấp, mà nó thì không đủ vốn mở tiệm riêng ở thị xã, về quê mở tiệm thì chẳng đào đâu ra khách vì quanh năm người quê ít cắt mà lại người cùng làng cùng xã không có tiền toàn cắt tóc nợ nên nó đành bỏ nghề mà đi lính.
Khi cắt tóc xong thì hạ sĩ Quang lệnh cho chúng tôi phải cắt móng tay móng chân. Xem ra cái này thì quá đơn giản, vì tiểu đội chúng tôi hầu hết là các cậu con trai nông thôn ai để móng tay chân dài làm gì. Kể cả bọn trai thành phố cũng chẳng để móng tay chân dài.
Sau khi cắt tóc tai xong thời gian buổi sáng còn lại khá rảnh. Hạ sĩ Quang nói rằng ai nấy hãy chuẩn bị thu xếp hành lý gồm những đồ dùng quần áo của mình để chiều nay sẽ gửi cho nhà kho, hai giờ chiều sẽ được nhận quân tư trang mới. Buổi sáng này cho phép đi lại trong đại đội nhưng không được sang nhà đại đội khác.
Hành lý của tôi chẳng có gì, thế nên tôi đi tìm bọn bạn cùng huyện.
Sang chỗ thằng Huy tôi ngó tìm thấy nó ngồi bó gối mặt ủ dột. Tôi vỗ vai nó bật cười:
- Ai cắt tóc cho mày vậy!
Cu cậu vội vã xua tay lia lịa mà mắt thì lấm lét nhìn một người mặc quân phục tề chỉnh gần đấy, chắc anh ta là A trưởng của tiểu đội nó. Mái tóc thằng Huy lởm chà lởm chởm, nhiều chỗ troạng từng mảng to, nom ngố hết biết, được cái đúng là tóc cua ba phân không ai chối cãi được. Đã thế không được cạo tỉa nên chỗ tóc mai và tóc rìa quanh ót cứ lum xa lum xum.
Tôi cúi xuống nói nhỏ với nó:
- Thôi, sang chỗ thằng bạn cùng tiểu đội với tao, tao nhờ nó sửa hộ cho.
Nó mừng rỡ gật đầu.
Trên đường đi nó kể với tôi, tiểu đội nó chẳng thằng nào biết cắt tóc, cuối cùng đích thân A trưởng phải cầm kéo. Nhưng A trưởng tay nghề kém thế cho nên cái đầu của nó mới ra nông nỗi thế này đây. Nhưng lúc mà tôi đến hỏi ai cắt thì A trưởng của nó đang ngồi gần đấy nên nó chẳng dám mở miệng chê bai. Tôi bật cười, ra là vậy, nghĩ lại tôi thấy chả trách gì lúc thằng Hiệp tàn nhang xung phong cắt tóc A trưởng của tôi vui ra mặt, chắc tay nghề anh ta cũng chẳng khá hơn.
Thằng Hiệp tàn nhang vui vẻ sửa cái đầu cho thằng Huy, đôi tay điệu nghệ của nó lướt qua vài lượt là mái tóc thằng Huy nhìn đỡ hẳn. Nó còn biết dùng kéo để thay cho dao cạo để tỉa tóc mai cũng như tỉa tóc ót.
Sửa tóc rồi, tôi và thằng Huy đi tìm những đứa bạn khác.
Tôi còn nhớ, cùng đại đội Ba của tôi còn có thằng Đức lông mi dài ở thị trấn, thằng Vị, thằng Kiệt và thằng Nhân đều ở mấy làng phía bên sông của làng tôi.
Tôi và thằng Huy gặp ngay thằng Vị và thằng Kiệt, hoá ra chúng ở dãy phản gần chỗ tôi, chỉ vì lính mới quá đông lộn xộn nên trước đó tôi nhìn không ra, hai thằng này cùng một tiểu đội. Bọn chúng tôi tiếp tục đi tìm hai đứa còn lại. Trên đường đi hai thằng này cằn nhằn A trưởng của chúng quá nóng tính, vừa cằn nhằn điều đó hai thằng này vừa nháo nhác ngó trước ngó sau. Có vẻ như chúng sợ bị ai nghe trộm được. Rồi chúng tôi cũng tìm được thằng Nhân. Đến khi tìm thằng Đức thì thấy cu cậu đang nằm bò trên phản. Mái tóc lãng mạn hôm qua của thằng Đức nay đã biến mất, chẳng biết ai cắt cho nó mà mái tóc mới cũng lợp ngói lởm chởm tuy không đến nỗi như của thằng Huy lúc nãy, nhưng tóc cắt ngắn như thế thì trông nó có vẻ cứng cỏi hơn.
- Mày làm gì thế. Thằng Huy hỏi.
- A, tao đang viết thư. Thằng Đức ngẩng lên mừng rỡ.
- Cho em bé học 11 đấy à!
- Ừ, tao đọc cho chúng mày nghe nhé.
Tôi xua tay:
- Thôi, thôi...
Nhận thấy vẻ sửng sốt hơi cụt hứng trong ánh mắt của thằng Đức và vẻ tò mò muốn nghe thư của đám thằng Huy. Tôi vội nói tiếp:
- Bọn mình ra ngoài sân, tìm chỗ nào ít người mà ngồi chơi nói chuyện. Muốn nghe đọc thư thì cũng ra đấy chứ ai lại đọc ở đây...
Thằng Đức có vẻ mừng ra mặt, nó nhanh chóng cất đống sổ của nó vào túi hành lý, tay khư khư nâng niu lấy lá thư. Chúng tôi đi ra ngoài sân. Trời nắng rực rỡ. Ngoài sân rộng mênh mông. Chẳng thể ra ngồi giữa sân nắng như thế được. Chẳng đâu có bóng cây. Tìm loanh quanh ở những chỗ khuất bóng mặt trời có thể ngồi được thì đã có nhiều nhóm khác ngồi trước mất rồi. Cuối cùng bọn tôi cũng tìm một chỗ khuất nắng ở cạnh dãy tường bao bọc doanh trại.
Thằng Đức háo hức ngồi xuống trước tiên. Nó lấy lá thư của nó ra. Mấy thằng kia vây chung quanh.
- Mày đọc đi! Thằng Nhân và thằng Vị giục.
- Ừ, bọn mày nghe nhé!
Thằng Đức ngân nga: " Đà Nẵng... Đêm buồn..."
Thằng Huy ngạc nhiên:
- Mày viết lúc đêm qua à, mới tám giờ tối A trưởng đã bắt đi ngủ rồi mà!
- Không, tao viết lúc sáng, khi cắt tóc xong.
Lúc này thì cả thằng Nhân, thằng Vị và thằng Kiệt đều ngạc nhiên:
- Mới lúc sáng thì sao mày lại viết là "đêm buồn"?
Thằng Đức có vẻ hơi bực:
- Thì có vậy nó mới lãng mạn, mới thể hiện đuợc nỗi lòng của tao, thôi tao đọc tiếp nhé!
Rồi thằng Đức lại ngân nga: "Đà Nẵng... Đêm buồn vô tận... Thuỳ Dung em xa nhớ của anh!..."
Nó rời mắt ra khỏi lá thư, quay sang mấy đứa giải thích:
- Thuỳ Dung là tên cô ấy. Mới đầu tao cứ định viết là Thuỳ Dung yêu quý của anh, nhưng nghĩ đi nghĩ lại mình chưa từng ngỏ lời nên viết yêu quý thì không được nên đổi thành xa nhớ.
Nó lại ngân nga tiếp: "Đà Nẵng .... Đêm buồn vô tận... Thuỳ Dung em xa nhớ của anh!... Giờ này khuya lắm rồi, chuông đã điểm mười hai giờ đêm, mọi ngôi sao đều đã đi ngủ, bọn côn trùng cũng đã kéo nhau đi ngủ hết... Thuỳ Dung ơi, em đang làm gì, em đang học bài hay đã chìm vào giấc ngủ say sưa... Em ơi, em hãy thức dậy đi, hãy thức dậy giây lát để lắng nghe những dòng chữ tâm sự của anh, của người lính trẻ ở chốn xa xôi này với nhé..."
- Hết rồi. Thằng Đức gãi gãi đầu: -Tao mới viết được có vậy!
Mấy thằng kia có vẻ ngẩn ra, ở cái đoạn đêm buồn thêm chữ vô tận chúng muốn sặc ra vì cười nhưng ở những đoạn sau thì chúng không biết là hay dở ra sao nữa mà bình phẩm.
Tôi nói:
- Ừ, cậu viết cái đoạn mấy ngôi sao đi ngủ cũng được, nhưng sao lại lôi bọn côn trùng vào.
- Thì tao thường thấy anh trai viết thư cho bạn gái thường có dòng chữ ấy. Tao thấy hay hay hay nên bắt chước theo. Còn đoạn mấy ngôi sao đi ngủ là tao viết theo cái cuốn sổ "Một ngàn lẻ một lá thư tình" mà tao mua ngoài hiệu sách.
Tôi bật cười:
- À, thì ra cậu copy chỗ này một tý chỗ kia một tý.
- Thế nào? Thằng Đức hỏi: - Lá thư của tao thế nào? Được chứ!
Không đợi trả lời, thằng Đức hỏi dồn tôi:
- Đến đoạn sau tao chẳng biết viết ra làm sao nữa, tao cố tìm trong cuốn "Một ngàn lẻ một lá thư tình" xem có chỗ nào giông giống hoàn cảnh của tao không nhưng chẳng thấy. Hiển, cậu giúp tớ với, nghe nói cậu học giỏi lắm!
Tôi né tránh:
- Học là một chuyện còn yêu là một chuyện, về khoản thư từ tớ đâu có biết gì...
Bụng tôi thoáng nghĩ, nếu lộ ra cho bọn này biết tôi giỏi văn thì chúng nhờ viết thư cho bạn gái kiểu như tình yêu trời ơi đất hỡi của thằng Đức đây cũng mệt lắm.
Thằng Nhân hào hứng:
- Mày có cái cuốn "Một ngàn lẻ một lá thư tình" hả, bữa nào cho tao mượn với nhé!
Mấy đứa nói chuyện với nhau về chuyện bạn gái ở quê. Một hồi thì đề tài này có vẻ nhạt dần vì ngoài thằng Đức với mối tình khó đánh giá của nó thì những đứa khác đều chưa tơ tưởng ai sâu sắc cả.
Tôi lái sang đề tài khác:
- Không biết mấy thằng cùng huyện của mình ở mấy đại đội kia ra sao nhỉ?
Thằng Huy hiểu câu nói đó ở một khía cạnh khác, nó hậm hực:
- Mẹ kiếp, sao tao bực mấy thằng trong tiểu đội tao quá.
Tôi vội gạt đi:
- Mày nên hoà hợp với mọi người, đừng hay cãi cọ, còn ban đầu thì ai nấy đều lạ nhau nên thích chơi với những người cùng quê. Như bọn mình đây chẳng hạn, có gì lạ đâu...
Thằng Huy đang định cãi thì thằng Kiệt chen vào:
- A trưởng của bọn tao nóng tính quá. Lúc sáng làm tao hết hồn khi tưởng mình bị đánh.
- Mày dậy muộn hả. Tôi hỏi.
- Ừ, cả thằng Nhân nữa, cả mấy thằng khác nữa, A trưởng của tao quát thét như lên cơn điên.
Tôi nhớ đến hạ sĩ Quang với thằng Phúc lúc sáng và nghĩ chắc mấy thằng này không ngoa.
Thằng Vị lắc đầu:
- Hừm, họ cũng đi trước bọn mình một năm hay nửa năm gì đó thôi, sao phách lối thế, mẹ kiếp, đúng là ma cũ ăn hiếp ma mới!
Tôi bất giác thở dài...
Buổi chiều, lúc hai giờ rưỡi, chúng tôi được gọi nhận quân tư trang. Quân tư trang mỗi người gồm một chiếc ba lô, hai bộ quần áo lính kể cả quần đùi áo lót, một khăn mặt, một bát ăn cơm bằng sắt, một đôi đũa, một mũ cối có đính ngôi sao năm cánh nhỏ, một đôi cầu vai binh nhì, một thắt lưng bằng da, một đôi dày vải bố, một đôi dép rọ, chăn, chiếu và màn... Điều đáng nói là quần áo và mũ theo kiểu lính trên bộ (bộ đội) chứ không phải là theo kiểu lính trên biển (hải quân). Sau này thì tôi biết do chúng tôi huấn luyện ba tháng tân binh theo giáo án huấn luyện của lính trên bộ nên người ta cấp phát những bộ đồ quần áo này chứ chưa cấp phát đúng quần áo của lính hải quân.
Ngoài ra chúng tôi còn nhận được thẻ quân nhân.
Nhận được quân tư trang, hạ sĩ Quang yêu cầu chúng tôi lập tức thay đồ lính vào, sau đó đem gói chung tất cả vào hành lý đem nộp vào nhà kho. Kể cả quần áo lót cũng phải thay sạch, khăn mặt cũng phải thay, chỉ có thể được giữ bút giấy sổ và vài thứ lặt vặt khác mà thôi. Tôi nghe tiếng mấy thằng ở tiểu đội bên oán than vậy là bộ đồ quần áo bò đi đứt rồi... Hành lý gửi vào nhà kho được đánh số rõ ràng, mọi việc được sắp đặt đâu vào đấy rất nhanh. Đúng là tác phong của nhà binh.
Tôi mân mê quân tư trang của mình mà thấy bồi hồi, tất cả hãy còn mới tinh, so với chiếc chăn sờn rách, chiếc màn vá nhiều chỗ, chiếc chiếu pha mồ hôi sẫm bóng mà tôi cùng thằng em trai nằm ngủ chung ở nhà thì có được chăn chiếu màn thế này thật là khác nhau nhiều.
Những cậu bạn của tôi thay quân phục vào đều nom trở nên khác lạ hẳn không lôi thôi lếch thếch như trước nữa. Đứa nào cũng có vẻ oai vệ chững chạc ra... Bất giác tôi ưỡn ngực.
Từ nay tôi thực sự đã là một người lính.
Nguyễn Ngọc Nam Phương
Sài Gòn, tháng 6 năm 2006
(Xem tiếp chương 3)